glory box

img_3808

yoko chiều mưa tháng Một

Lần cuối cùng đến yoko là một chiều thứ Hai cuối năm, quán đông kín người, ngồi nép một góc gần cửa sổ, xem In the Mood for Love của Vương Gia Vệ, ngắm Lương Triều Vỹ và Trương Mạn Ngọc tình tự với nhau.

Lần này quay lại yoko là để nghe nhạc. Lâu lắm, đã lâu lắm rồi mới đến yoko nghe nhạc. Không nhớ được lần cuối cùng là khi nào vì thật ra chỉ mới nghe nhạc ở yoko mỗi một lần, thời còn sinh viên lang thang quán này sang quán khác nghe tình ca. Lâu đến nỗi không còn gợi được chút ký ức nào, ngày hôm ấy là hôm nào, trời có đổ cơn mưa, ca sĩ nam hay nữ. Khi người ta đã thôi đếm nến trong ngày sinh nhật thì cũng là lúc có những ký ức cứ thế trôi đi mất khó lòng tìm lại được, huống chi là ký ức của tuổi trẻ buồn và cô quạnh.

Vài ngày trước Giao thừa, lại còn là một tối trời mưa, Yoko chỉ lác đác vài bàn có người. Bạn bảo mình đến yoko để nghe một cậu chàng tên Gia Cát, hát không xuất sắc nhưng rất thật, rất phiêu. Hôm ấy Gia Cát không xuất hiện, mình thì bị Tofu mê hoặc.

Khác với RFC, nghe nhạc ở quán cà phê khác với việc đắm mình tìm quên trong rock, bia rượu và thuốc lá, lại còn ở một quán cà phê màu gỗ trùng tên với vợ của một danh ca đã bị ám sát. Trong không khí lãng đãng hơi ấm của thời gian và kỷ niệm. Nữ ca sĩ có biệt danh đọc trại từ tên tiếng Việt của chị, đồng thời là tên gọi trong tiếng Nhật của thứ thức ăn trắng trẻo mịn màng làm từ đậu. Chị mặc chiếc váy hoa có lẽ bằng linen, chất liệu thô ráp nhưng mộc mạc, khoác thêm chiếc khăn to sụ ấm áp mang hoa văn thổ cẩm nhiều màu sắc. Chỉ sự hiện diện của chị cũng đủ khiến quán cà phê rung chuyển tách khỏi không gian đô thị cứng nhắc nặng nề mà hòa vào miền đồng nội mênh mông réo rắt tiếng cỏ cây mây gió. Mái tóc thô dày xõa tự nhiên, loăn xoăn sợi đen điểm bạc đem lại cảm giác chín chắn hơn thông tin về tuổi tác.


Chị hát nhạc vui, Beauty of the world, The birds and the bees, chất giọng trong trẻo cao vút mang âm hưởng đồng quê mộc mạc, có ý chiều chuộng khiến khách hàng vui vẻ, như một phương thức kinh doanh quen thuộc. Chỉ khi chị dốc cạn đáy lòng, giọng chị khàn đặc và trầm lắng, đôi khi như nấc như nghẹn hát Glory box của Portishead, khí chất của chị mới tuôn trào cuồn cuộn hiện hữu trong không khí, xoắn lấy người nghe, xồng xộc khuấy đảo nội tâm của thính giả. Âm nhạc và khí chất như thế, dễ khiến tim đau đớn, dễ khiến người ta mất bình tĩnh, dễ khơi gợi lại vết thương lòng còn chưa kịp chữa lành.

I’m so tired of playing
Playing with this bow and arrow
Gonna give my heart away
Leave it to the other girls to play
For I’ve been a temptress too long

Give me a reason to love you
Give me a reason to be a woman
I just wanna be a woman

Sự chú ý cho lời ca tiếng nhạc dần bị phân tán mà chỉ chú tâm vào từng nét cảm xúc trên gương mặt chị, dù ánh đèn ở Yoko cứ khiến hình ảnh trước mắt hóa ra mờ ảo. Chỉ có khí chất vô hình là luôn luôn rõ ràng trần trụi. Có thứ khí chất bản thân luôn xa lánh, không thể nào gần gũi, thứ thần thái sang trọng kiêu sa của những cô gái sống trong giàu sang nhung lụa vô lo vô nghĩ. Họ không xấu, thậm chí còn là những người con gái xinh đẹp và hòa nhã, nhưng bản thân vốn không thể cảm thấy yêu mến thân quen với những người không cùng một thế giới, nội tâm được tô vẽ bởi hai bảng màu khác nhau. Có một loại khí chất tăm tối, đau khổ và nhiệt thành của những người bị tổn thương (vulnerable) trong cuộc sống. Tofu khi hát những lời ca buồn bã nghẹn ngào toát ra khí chất nghệ sĩ cuồn cuộn mãnh liệt âm u thiêu đốt cả không gian.

Bài hát chất chứa sự u uất của người phụ nữ. Vài lời giới thiệu của bạn không rõ ràng bằng nét nhíu mày thể hiện những đắng cay, tiếng nấc nghẹn trầm đục thể hiện sự bất lực của mộng mơ vụn vỡ từ người đang cất lời ca tiếng hát. Mất mát và đau khổ có phải đã quá nhiều mới qua lời hát tuôn chảy thành hình ảnh thành không gian thành bóng tối bao trùm lên tất cả. Khi hát, chị được là chính mình, chị được âm nhạc cứu rỗi và chữa lành.

Khi viết, tôi mong được là chính mình, tôi chờ mong được cứu rỗi.

I don’t think all writers are sad, she said. I think it’s the other way around – all sad people write.

― Lang Leav

con của Noé

cover-con-cua-noe

Éric-Emmanuel Schmitt
Nguyễn Đình Thành dịch
Nhã Nam xuất bản tháng 11/2016

Bruxelles. Năm 1942, Joseph, cậu bé Do Thái lên bảy. Joseph được cha Pons, vị cha xứ chân chất và mẫu mực, nhận nuôi cùng hàng chục đứa trẻ Do Thái khác ở Villa Jaune tại ngoại ô.

Sách ngắn, vỏn vẹn 160 trang, dày nom phân nửa cuốn tạp chí Kinfolk. Đơn giản, chân thật và ấm áp như tâm hồn trẻ thơ, tuy viết về chiến tranh, về tôn giáo và có những nhân vật mãi mãi mất tích ở những trại tập trung.

Câu chuyện về một vị cha xứ nhưng không phải để tôn sùng một tôn giáo cụ thể, câu chuyện về chiến tranh và Đức quốc xã nhưng không tra tấn người đọc bằng sự tàn bạo của lịch sử, câu chuyện về hành trình khám phá tri thức của một cậu bé chưa trưởng thành nhưng lồng ghép khéo léo dòng kiến thức về triết lý tâm linh sâu xa của cả Công giáo lẫn Do Thái giáo.

Cảm giác dễ chịu và khoan khoái như nhìn thấy cầu vồng sau cơn mưa, như trưa hè nóng nực bắt được một cơn gió mát, như khi xưa đọc được “Một ngày mưa đẹp trời” cũng của Éric-Emmanuel Schmitt.

Một cứu cánh giữa bối cảnh ngày nào xem tin tức cũng thấy một thằng hề ngu ngốc da cam tóc vàng khua môi múa mép.